|
Vị A La Hán cỡi nai. Vị tôn giả này cùng 1000 vị A-la-hán, phần
lớn cư trú tại Tây Ngưu Hóa châu.Ngài xuất thân từ gia đình Bà La Môn, là một
vị quan lớn trong triều đình của một tiểu quốc ở Ấn Độ, và rất được nhà vua
tín cẩn. Ngày nọ, Ngài chợt quyết định xuất gia, không muốn nghe những
lời nài nỷ của nhà vua. Thế rồi, Ngài rời bỏ quan vị, vào một ngôi chùa ở
trong vùng núi sâu. Hôm nọ, Ngài cỡi nai đi đến trước cung điện. Nhận
dạng ra Ngài, các vệ sĩ trở vào bẩm trình với vua. Nhà vua bèn đích thân ra
nghinh tiếp Ngài, và nói rằng Ngài có thể trở về làm quan như
|
|
|
xưa nếu muốn. Ngài từ chối và nói rằng Ngài trở về để khuyến khích nhà
vua xuất gia. Đàm luận một hồi lâu và đưa ra những ví dụ về sự tạo nghiệp của
xác thân cũng như lòng tham, cuối cùng nhà vua nghe theo Ngài, nhường ngôi
cho thái tử, mà xuất gia.
Ngài là một trong những đại đệ tử của
Phật. Ngài có âm thanh hùng hồn như sư tử rống, dẹp tan luận nghị ngoại đạo,
xiển dương chánh pháp. Tuy nhiên, yếu điểm của Ngài là hiển hiện những thần
thông trước tất cả mọi người, và đôi khi với những mục đích không lợi lạc.
Theo Kinh Tạp A Hàm 23, lần nọ con gái ông trưởng giả Cấp Cô Độc thỉnh Phật
và chư Thánh Tăng đến xứ Phú Lâu Na Bạt Đà Na thọ trai. Các vị Thánh Tăng đều
dùng thần thông bay trên hư không mà đến, còn Tôn Giả thì dùng sức thần thông
hiệp các núi lớn lại đến thọ thỉnh, nên bị đức Thế Tôn quở phạt ở lại đời để
hộ trì chánh Pháp, không được nhập Niết Bàn. Lần khác, theo những sự ghi lại
trong Kinh tạng Pali và tạng Luật, để thị hiện thần thông, Ngài bay lên hư
không, lấy một bình bát bằng gỗ chiên đàn trên một cột cây cao, rồi bay lơ
lững trên đầu của những người kính mộ một hồi lâu. Việc này khiến đức Phật
quở trách Ngài, và cấm dùng bình bát bằng gỗ trầm hương. Vào dịp đó, đức Phật
quở phạt Ngài rằng không được nhập Niết Bàn mà phải ở lại cõi Ta Bà để hộ trì
Phật pháp cho đến khi Phật Di Lặc ra đời. Tuy nhiên, đôi khi Ngài cũng thị
hiện thần thông vì mục đích tốt, như dùng thần thông để cảm hóa một bà chưa
tin chánh Pháp.
Ngài trụ thế từ thời đức Phật còn tại
thế gian, và đã nhiều lần hiển hiện khuyến tấn những Phật tử thuần thành vì
đạo. Ở Ấn Độ đã từng có phong tục cúng dường chư Tăng và thỉnh mời Ngài. Tuy
không thể tshấy Ngài, nhưng một cánh cửa được dành riêng cho Ngài vào. Sự thị
hiện của Ngài chỉ được biết qua sự hiển hiện của những bông hoa hay tấm thảm
dành riêng cho Ngài. Khi vua A Dục cung thỉnh chư Thánh Tăng 60,000 vị, Ngài
đang ở trên ngọn núi Kiền Đà Ma Lợi (Gandhamali hay Gandhamadana). Được cung
thỉnh nhập vào Thánh chúng, Ngài bay như hạc đến dự trong Thánh chúng và được
đề cử làm chủ tọa vì là bậc trưởng thượng. Lúc ấy, Ngài là một vị thánh tăng
trưởng lão; vì lông tóc dài bạc phơ, Ngài phải cầm giữ để mắt thấy rõ ràng.
Phật tử Trung Hoa thường biết đến Ngài qua tên “Trường Mi Tăng”; nghĩa là vị
Thánh Tăng có lông mi dài. Vào đời Đông Tấn, Ngài thị hiện sang Trung Quốc,
ấn chứng sự hoằng Pháp luật học của Luật Sư Đạo Tuyên. Từ đời Đường về sau,
các Trai Đường (phòng ăn) đều an trí tượng Ngài. Đại sư Thiền Nguyệt Quán Hưu
đời Đường, họa tượng Ngài ngồi theo thế ky tọa, trên sườn núi, tay trái cầm
gậy, tay phải duỗi ra, tựa vào vách núi, trên đầu gối có quyển kinh, mắt nhìn
về phía trước. Ở Nhật Bổn, thánh tượng của Ngài được an trí ở hành lang trước
tự viện, và có tín ngưỡng xoa vuốt tượng Ngài để cầu hết bịnh, gọi là Phủ Phật.
Tần Đầu Phả La Đọa hán dịch nghĩa là
Lợi Căn Bất Động, còn tiếng Tây Tạng dịch nghĩa là Ứng Cúng. Tuy nhiên, danh
từ đó có thể được dịch âm tiếng hán “Tần Đầu”, do có liên hệ đến tên của một
ngôi làng Kosala vào thời đức Phật.
Một trong những đời tiền kiếp, Ngài đã
từng làm một người con bất hiếu và ác độc. Do nghiệp đó nên Ngài chịu khổ địa
ngục rất lâu, như phải ăn gạch đá. Ngay cả sau khi chứng quả A La Hán có thần
thông diệu dụng, Ngài vẫn còn tập khí ăn “gạch đá”. Có nhiều tranh ảnh miêu
tả Ngài một tay cầm sách, một tay cầm bình bát, hoặc cả hay tay cung kính cầm
sách, hoặc mở sách đặt trên đầu gối và tích trượng được dựng kế bên.
|
|
Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát Nam Mô A Di Đà Phật Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát
Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2014
TIỂU SỬ LA HÁN TÂN NẦU TÔ PHẢ LA ĐOẠ
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét